Chuyện thật dệt may, giày dép: Xuất khẩu chính vẫn là FDI?
Bởi FDI vẫn giữ vai trò chủ đạo trong xuất khẩu dệt may, giày dép, nhựa, chế biến gỗ nên PGS.TS Nguyễn Văn Nam lo ngại Việt Nam chỉ xuất hộ.
Những con số biết nói
Dù chịu tác động của đại dịch Covid-19 song xuất khẩu các ngành công nghiệp nhẹ của Việt Nam như dệt may, giày dép, chế biến gỗ, nhựa... vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng.
Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu giày dép các loại của Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2020 tăng trưởng bình quân là 7%/năm. Kim ngạch xuất khẩu hàng giày dép tăng liên tục trong giai đoạn 2016 – 2019. Năm 2020, do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, xuất khẩu hàng giày dép các loại đạt 16,8 tỷ USD, giảm 8% so với năm 2019, nhưng tăng 29,2% so với năm 2016. Trong nửa đầu năm 2021, kim ngạch khẩu hàng giày dép của Việt Nam đạt 10,4 tỷ USD, tăng 27,7% so với cùng kỳ năm 2020.
Cũng trong giai đoạn 2016 – 2020, khi xuất khẩu hàng may mặc của toàn thị trường thế giới giảm bình quân 0,26%/năm thì xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam vẫn tăng trưởng bình quân 6,13%/năm trong giai đoạn này.
6 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam ước đạt 19,18 tỷ USD, tăng 21% so với 6 tháng đầu năm 2020 và tăng 4,25% so với 6 tháng đầu năm 2019.
Đối với ngành gỗ, số liệu của Tổng cục Hải quan cho thấy, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tăng trưởng liên tục trong giai đoạn năm 2016 – 2020, với tốc độ tăng trưởng bình quân là 15,5%/năm. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu trong năm 2020 đạt 12,37 tỷ USD, tăng 16,2% so với năm 2019. Tiếp đà tăng trưởng năm 2020, trong 5 tháng đầu năm 2021 ngành gỗ bứt phá, đạt 6,62 tỷ USD, tăng 62% so với cùng kỳ năm 2020.
Còn non trẻ hơn so với các ngành công nghiệp lâu đời khác song ngành công nghiệp nhựa ở Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Giai đoạn 2016-2020, ngành nhựa là một trong những ngành công nghiệp có tăng trưởng cao nhất Việt Nam với mức tăng hàng năm từ 16% – 18% (chỉ sau ngành viễn thông và dệt may), có những mặt hàng tốc độ tăng trưởng đạt gần 100%/năm.
Tuy nhiên, số liệu cũng cho thấy các ngành công nghiệp nhẹ nêu trên của Việt Nam chủ yếu vẫn gia công và thành tích xuất khẩu chủ yếu thuộc về doanh nghiệp FDI.
Như ngành giày dép, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước vẫn thấp hơn so với các doanh nghiệp FDI trong phân khúc xuất khẩu. Năm 2020, các doanh nghiệp trong nước mới chỉ chiếm 21,1% tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam, trong khi 78,9% vẫn do các doanh nghiệp FDI đảm nhận.
Doanh nghiệp giày dép của Việt Nam vẫn chủ yếu là gia công và sản xuất giày cho các doanh nghiệp nước ngoài. Vì thế, lợi nhuận doanh nghiệp còn thấp và phụ thuộc nhiều vào điều khoản của phía đối tác.
Hiện là nhà xuất khẩu hàng may mặc lớn hàng đầu thế giới, song Việt Nam vẫn gần như đứng ở cuối nguồn trong chuỗi giá trị sản xuất dệt may, chủ yếu ở khâu may mặc.
So sánh với các doanh nghiệp FDI, tỷ trọng của các doanh nghiệp trong nước trong tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam vẫn thấp hơn và chỉ tăng nhẹ sau 10 năm, từ 39,2% vào năm 2010 lên mức 41,1% vào năm 2019, theo số liệu từ Vụ Thị trường châu Âu - châu Mỹ (Bộ Công thương).
Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ năm 2020 đạt kỷ lục hơn 12 tỷ USD thì trong đó, doanh nghiệp FDI chiếm tới hơn 50%. Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, năm 2020 ngành gỗ có 653 doanh nghiệp FDI tham gia xuất khẩu, chiếm 18% trong tổng số doanh nghiệp xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI đạt trên 6 tỷ USD, tương đương 51% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả ngành.
Trong khi đó, doanh nghiệp nội địa chiếm 82% về số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gỗ, nhưng, kim ngạch xuất khẩu chỉ chiếm tỷ trọng 49% trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Về tăng trưởng kim ngạch trong xuất khẩu gỗ, các doanh nghiệp FDI có tốc độ tăng trưởng trên 20% so với năm 2019, trong khi các doanh nghiệp nội địa tăng trưởng chỉ bằng một nửa.
Tương tự, xuất khẩu nhựa của Việt Nam chủ yếu đến từ nhóm những công ty FDI (chiếm 60% giá trị xuất khẩu toàn ngành), những công ty này sử dụng những công nghệ tiên tiến, đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng của các thị trường nước ngoài. Những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của ngành nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn là bao bì túi nhựa, hoặc phụ kiện, linh kiện có giá trị gia tăng thấp.
Số liệu từ Bộ Công thương cho thấy, các công ty trong nước chiếm 85%, công ty nước ngoài tuy chỉ chiếm 15% về số lượng nhưng chiếm đến 40% về vốn đầu tư.
Phận làm thuê giá rẻ?
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công thương) cho biết, doanh nghiệp FDI đóng vai trò chủ yếu trong xuất khẩu của các ngành dệt may, nhựa, chế biến gỗ, giày dép đã diễn ra nhiều năm, có khác chăng là sự thay đổi tỷ trọng xuất khẩu, xuất khẩu của doanh nghiệp nội địa dù có tăng nhưng vẫn lép vế so với doanh nghiệp FDI.
Doanh nghiệp FDI sử dụng lao động Việt Nam, nhưng PGS.TS Nguyễn Văn Nam cho biết, người lao động Việt Nam vẫn chỉ là làm thuê giá rẻ cho FDI, kim ngạch xuất khẩu của một số ngành nêu trên dù có cao nhưng đa phần giá trị thuộc về FDI, phía Việt Nam chỉ được một phần rất nhỏ là giá gia công.
"Sản phẩm được dán mác Việt Nam nhưng rõ ràng chúng ta chỉ gia công, lắp ráp. Từ đây, xảy ra vấn đề là: mỗi lần một mặt hàng nào đó của Trung Quốc bị Mỹ áp thuế, lập tức họ đổi xuất xứ sang Việt Nam, xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh, song được một thời gian ngắn, khi Mỹ phát hiện thì mặt hàng đó bị áp thuế chống bán phá giá, gian lận xuất xứ.
Đổi xuất xứ là vấn đề nguy hiểm và đáng lo ngại nhất vì nó khiến doanh nghiệp nội điêu đứng, đã yếu rồi nên chỉ cần một động tác nhỏ cũng đủ để ngã, khó đứng dậy được", nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại Bộ Công thương nói.
Nhận định thành tích xuất khẩu nhiều người vẫn tự hào chủ yếu vẫn là "xuất hộ" doanh nghiệp nước ngoài, vị chuyên gia cũng chỉ rõ doanh nghiệp Việt bị lép vế và chịu nhiều thua thiệt.
Như trong ngành dệt may, với nguồn vốn mạnh, dự án đầu tư lớn, lại có quan hệ bạn hàng rộng lớn trên quốc tế nên doanh nghiệp FDI có nhiều lợi thế hơn doanh nghiệp nội chịu sự cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp FDI và thường bị lép vế.
Hiệp hội Dệt may Việt Nam cũng đã chỉ rõ, đa phần dự án FDI đầu tư vào dệt may thời gian qua đều nhắm tới phân khúc may, cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp trong nước. Điều này làm cho các doanh nghiệp Việt Nam rất ít có cơ hội để tham gia vào chuỗi cung ứng giá trị, tạo ra sự liên kết bền vững.
Đó là chưa kể, trước đây các nhà đầu tư ngoại tìm đến Việt Nam ở lĩnh vực dệt may chỉ thuần túy gia công, nhưng nay họ đã đa dạng hóa nguồn vốn, từ đầu tư trực tiếp đến gián tiếp thông qua việc thâu tóm, mua lại cổ phần của doanh nghiệp trong nước làm cho thị phần vốn doanh nghiệp nội ngày càng thu hẹp lại.
Ngoài cạnh tranh trực tiếp về đơn hàng, các doanh nghiệp FDI còn cạnh tranh lao động với các doanh nghiệp trong nước. Họ có tiềm lực lớn, sẵn sàng bỏ ra một mức chi phí cao hơn để chi trả và tạo ra thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam.
Sự chênh lệch nêu trên, theo PGS.TS Nguyễn Văn Nam, có nguyên nhân từ hai phía. Trước hết là sự yếu kém về quản lý. Trung Quốc mở cửa cùng Việt Nam, và những năm 90 của thế kỷ trước họ cũng chỉ gia công, lắp ráp, nhưng sau đó khối doanh nghiệp nội địa của Trung Quốc đã bật lên, công nghiệp chế tạo phát triển, sản phẩm cạnh tranh ngang ngửa với các quốc gia như Mỹ, châu Âu...
Thứ hai, là sự yếu kém của doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, vị chuyên gia lưu ý, nội lực của doanh nghiệp Việt Nam cũng phụ thuộc vào chính sách. Chính sách khôn khéo, nuôi dưỡng thì tạo ra doanh nghiệp nội mạnh, đằng này xét về chính sách ưu tiên, ưu đãi, doanh nghiệp trong nước bị thua thiệt nhiều so với doanh nghiệp FDI.
Cho nên, sự đóng góp của FDI vào sự phát triển của kinh tế Việt Nam là không thể phủ nhận, song PGS.TS Nguyễn Văn Nam cũng đặt câu hỏi: tăng về lượng nhưng có đảm bảo về chất không, nhất là khi thành tích xuất khẩu suốt bao năm thuộc về FDI.
Đối với sự tăng trưởng trong xuất khẩu của Việt Nam, vị chuyên gia cho rằng điều ấy rất đáng ghi nhận, song cần nhìn nhận thẳng thực tế rằng, dù Việt Nam có thể đứng top đầu thế giới về xuất khẩu một mặt hàng nào đó nhưng như vậy vẫn chưa đủ bởi chúng ta chưa chi phối được thị trường và lãi chưa chắc đã rơi vào doanh nghiệp Việt. Nguyên nhân một phần là do các doanh nghiệp, tập đoàn của Việt Nam chưa đủ mạnh, chưa thể đặt giá cho thế giới như các tập đoàn xuyên quốc gia lớn mạnh của các nước trên thế giới.
"Đơn cử như mặt hàng gạo, Việt Nam xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới về lượng, nhưng vẫn không chủ động áp giá được. Khi thị trường khan hiếm, giá gạo Việt Nam tăng lên một chút, nhưng nhìn chung vẫn thua Thái Lan, Ấn Độ...
Tôi nhớ cách đây hơn 20 năm rộ lên chuyện Việt Nam xuất khẩu gạo, cà phê... Chúng ta làm được nhưng có xuất được hay không lại phụ thuộc vào các tập đoàn nước ngoài, giá nào cũng phụ thuộc vào họ.
Các doanh nghiệp nước ngoài mua tại gốc. Có thể thấy rõ điều này qua cách làm của doanh nghiệp Trung Quốc. Nhiều năm qua, Trung Quốc mua thanh long, xoài... của Việt Nam tại gốc. Họ làm thị trường rất tốt, từ thu mua, đặt hàng, đến chuẩn hóa sản xuất", ông dẫn chứng.
Vị chuyên gia cũng nhắc đến bài học của Hàn Quốc, từ một quốc gia đói nghèo đã nhanh chóng vươn lên trở thành rồng châu Á. Đóng góp vào quá trình phục hồi và phát triển kinh tế Hàn Quốc sau chiến tranh chính là các Chaebol. Từ những năm 1960, sự hỗ trợ của Chính phủ đã tạo điều kiện cho các tập đoàn tăng trưởng và gia nhập nhiều thị trường. Đây chính là công thức đã đưa Hàn Quốc ra khỏi đói nghèo.
"Rõ ràng, nuôi dưỡng doanh nghiệp cần có chương trình, chính sách cụ thể, Việt Nam cần phải nỗ lực để làm được điều này", ông kết luận.
TIN LIÊN QUAN
17,2 tỷ USD FDI: TP.Hồ Chí Minh chuyển từ thu hút vốn sang kiến tạo năng lực công nghệ
TP.Hồ Chí Minh thu hút 17,225 tỷ USD FDI sau 9 tháng 2026. Dòng vốn đang chuyển mạnh vào AI, trung tâm dữ liệu, logistics và công nghệ cao....
Chỉ 3 tàu qua Hormuz trong 24 giờ, tuyến huyết mạch dầu mỏ tiếp tục tê liệt
Theo dữ liệu theo dõi tàu của Kpler, chỉ có 3 tàu chở hàng hóa đi qua eo biển Hormuz trong 24 giờ qua.
Công ty Quản lý tài sản phải có vốn điều lệ 5.000 tỷ đồng
Chính phủ quy định vốn điều lệ của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam là 5.000 tỷ đồng. Doanh nghiệp này do Nhà nước sở hữu...
Thị trường dầu mỏ đang đánh giá sai rủi ro nguồn cung vùng Vịnh?
Thị trường dầu đang hành xử như thể những vấn đề về nguồn cung tại vùng Vịnh sẽ sớm tự giải quyết. Nhưng niềm tin đó ngày càng khó đứng vững.
Hà Nội cần 2,8 triệu tỷ đồng cho đầu tư công giai đoạn 2026-2030
Nhu cầu nguồn lực đầu tư công của Hà Nội giai đoạn 2026-2030 được cập nhật lên khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, tăng mạnh sau khi bổ sung định hướng phát triển khoảng 362 km...
BRICS 2026: "Phép thử" giữa khủng hoảng Trung Đông
Ấn Độ đón các nhà lãnh đạo thế giới tới tham dự Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18, trong đó có có Tổng thống Nga Vladimir Putin, Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
Bản tin Năng lượng Quốc tế 11/9: HSBC nâng dự báo giá dầu Brent
PetroTimes xin gửi đến Quý độc giả những tin tức mới nhất trên thị trường năng lượng quốc tế.
Giá năng lượng kéo CPI tăng trở lại trong tháng 8
Giá nhiên liệu tăng mạnh trở thành tác nhân chính kéo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2026 tăng trở lại sau hai tháng giảm liên tiếp...
Mỹ bổ sung kho dự trữ dầu chiến lược bằng cách nào?
Ngày 30/8, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết dầu mỏ từ thỏa thuận được ký kết gần đây với Venezuela sẽ được sử dụng để bổ sung kho dự trữ dầu chiến lược...
Những chính sách kinh tế có hiệu lực từ tháng 9/2026
Chậm trả lương, doanh nghiệp có thể bị phạt tới 100 triệu đồng; Sở giao dịch hàng hóa phải có vốn điều lệ tối thiểu 1.500 tỷ đồng...
Bộ Tài chính ban hành quy chế giám sát, quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 2306/QĐ-BTC về Quy chế giám sát, kiểm tra hoạt động quản lý và đầu tư vốn nhà nước; giao chỉ tiêu...
Đề xuất tăng trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng đối với nền tảng thương mại điện tử
Bộ Công Thương đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trong đó đề xuất nhiều quy định mới...
Giảm thuế doanh nghiệp: Thêm nguồn lực cho sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng
Các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) cho rằng chính sách giảm thuế doanh nghiệp cần được thiết kế sát thực tế, đúng đối tượng và có tính dài hơi, không chỉ giúp doanh nghiệp giảm...
Rủi ro tại eo biển Hormuz càng "nóng", cước VLCC càng tăng
Mức giá thuê tàu chở dầu thô cực lớn (VLCC) để nhận dầu tại khu vực vịnh Ba Tư và vận chuyển đến Trung Quốc đã tăng vọt trong tuần này.
Ngành bán dẫn Việt Nam: Từ áp lực "năng lực thực thi" đến lời giải tại SEMICONNECT 2026
Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI), xe điện, trung tâm dữ liệu, tự động hóa công nghiệp và các hệ thống điện tử thông minh đang tạo ra những...
Nhà đầu tư mong muốn một hành lang pháp lý đồng bộ
Trong quá trình chuyển dịch năng lượng và thu hút đầu tư, một đạo luật tốt là chưa đủ. Điều nhà đầu tư cần là một hành lang pháp lý thống nhất, trong đó...
Đầu tư công trước bài toán tăng trưởng 11,9%: Dòng vốn lớn sẽ chảy về đâu?
Việt Nam bước qua nửa đầu năm 2026 với mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất khu vực. Mục tiêu tăng trưởng hai chữ số khiến áp lực của 6 tháng cuối năm...
Đề xuất cắt giảm 47 điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ
Chính phủ đề xuất cắt giảm 47, đơn giản hóa 4 và sửa đổi, bổ sung 3 điều kiện kinh doanh trong các lĩnh vực tần số vô tuyến điện, viễn thông, giao dịch điện tử và chuyển giao công nghệ, đồng thời đẩy mạnh phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để doanh nghiệp quyết định giá xăng dầu: Bước đi hướng tới thị trường ổn định và cạnh tranh
Bộ Công Thương đang lấy ý kiến hoàn thiện Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 3/9/2014 và các Nghị định sửa đổi, bổ sung của Chính phủ về kinh doanh...


























