Thấy gì qua cuộc kiểm toán quản lý nguồn nước Mekong?

Theo PGS.TS Đào Trọng Tứ, cuộc kiểm toán giúp người dân có thêm nhận thức về việc khai thác, sử dụng, quản lý nguồn nước lưu vực sông Mekong.

Kiểm toán Nhà nước (KTNN) Việt Nam vừa thực hiện cuộc kiểm toán việc quản lý nguồn nước lưu vực sông Mekong gắn với thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.

Tại cuộc kiểm toán này, KTNN chỉ ra những bất cập, hạn chế trong công tác quản lý tài nguyên nước, kết hợp với các yếu tố biến đổi khí hậu, sự gia tăng của việc khai thác, sử dụng nước tại các quốc gia thượng nguồn lưu vực sông Mekong dẫn đến những tác động, ảnh hưởng tiêu cực tới Việt Nam, đặc biệt là khu vực ĐBSCL, đó là sự sụt giảm lượng nước, lượng phù sa bùn cát về đồng bằng, tình trạng xâm nhập mặn, thiếu nước sinh hoạt...

Mất mát lớn nhất của ĐBSCL

Trao đổi với Đất Việt, PGS.TS Đào Trọng Tứ, nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy ban sông Mekong Việt Nam cho biết, đây là lần đầu tiên có cuộc kiểm toán về việc quản lý nguồn nước lưu vực sông Mekong.

Ông cho biết, cuộc kiểm toán có sự tham gia của 3 quốc gia: Việt Nam, Myanmar, Thái Lan, trong khi lưu vực sông Mekong gồm 6 nước (Trung Quốc, Lào, Myanmar, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam), trong đó Trung Quốc chiếm 16% lượng nước; Lào 35%, Thái Lan 18%, Campuchia 18%; Myanmar 2%, Việt Nam 11%.

Hoan nghênh cuộc kiểm toán này, PGS.TS Đào Trọng Tứ đánh giá, cuộc kiểm toán giúp người dân có thêm nhận thức về việc khai thác, sử dụng cũng như quản lý tài nguyên nước lưu vực sông Mekong, những vấn đề mà các quốc gia trong lưu vực, đặc biệt là Việt Nam - quốc gia ở hạ du sông Mekong phải đối mặt...  

Cũng theo vị chuyên gia, KTNN đã đưa ra những con số cụ thể về sự suy giảm lượng nước, phù sa, xâm nhập mặn, thiếu nước sinh hoạt... ở ĐBSCL mà nguyên nhân chính là từ những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý tài nguyên nước.

Sông Mekong ở biên giới Thái Lan và Lào, nhìn từ Nong Khai bên phía Thái Lan. Ảnh: Reuters
Sông Mekong ở biên giới Thái Lan và Lào, nhìn từ Nong Khai bên phía Thái Lan. Ảnh: Reuters

Dù vậy, ông cũng nói rõ, nếu các quốc gia trong lưu vực sông Mekong chuyển nước ra ngoài lưu vực, như Thái Lan chuyển nước lưu vực sông Mekong sang lưu vực sông Chao Phraya, thì khi ấy sẽ dẫn đến sụt giảm lượng nước. Còn nếu tình trạng chuyển nước ra ngoài lưu vực không xảy ra, nước vẫn nằm trong lưu vực thì sự thay đổi lượng nước chỉ là giữa mùa này với mùa khác. Hiện nay, nước lũ về ĐBSCL giảm, còn về mùa khô lượng nước có tăng lên.

Bên cạnh đó, nguồn nước sông Mekong bị thay đổi, ngoài chuyện điều tiết hồ còn có yếu tố biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu khiến mưa trong mùa khô giảm đi nhiều.

Về phù sa, PGS.TS Đào Trọng Tứ cho hay, tình trạng sụt giảm lượng phù sa bùn cát về ĐBSCL là đúng. Hiện nay, Trung Quốc chiếm 50-60% lượng phù sa của toàn lưu vực sông Mekong. Hàng năm, lượng phù sa Mekong chảy xuống ĐBSCL là 150-160 triệu tấn. Tuy nhiên, 11 đập thủy điện của Trung Quốc trên thượng nguồn đã giữ lại lượng phù sa khá lớn, khiến lượng phù sa chảy xuống hạ nguồn bị hao hụt rất nhanh. Ủy hội sông Mekong quốc tế tính toán, đến năm 2040 sẽ giảm đến khoảng 97% lượng phù sa về ĐBSCL. Mất mát về phù sa là mất mát lớn nhất của ĐBSCL.

Về chất lượng nước, theo vị chuyên gia, khi các quốc gia thượng nguồn phát triển công nghiệp, nông nghiệp, đô thị mà không kiểm soát tốt thì nó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nước và ĐBSCL của Việt Nam gánh chịu.

Chuyện đường dài

Trên cơ sở kết quả kiểm toán, KTNN đã kiến nghị Ủy ban sông Mekong Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan đến việc thực hiện Hiệp định Mekong 1995 nghiên cứu, trao đổi, tham mưu cho Thủ tướng đề xuất Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) xây dựng các văn bản/hướng dẫn kỹ thuật về giám sát sử dụng nước (bao gồm chuyển nước) trên dòng nhánh; duy trì dòng chảy tối thiểu (trên dòng chính và dòng nhánh sông Mekong);

Đề xuất xây dựng các điều khoản, chế tài cụ thể để giải quyết tranh chấp đối với các bất đồng giữa các quốc gia thành viên trong việc quản lý và sử dụng nước lưu vực sông Mekong.

Thúc đẩy MRC thực hiện chuyển giao các hệ thống quan trắc (thủy sản, sức khỏe hệ sinh thái, phù sa bùn cát…) và các quốc gia thành viên đưa vào vận hành hiệu quả các hệ thống này, nhằm đảm bảo cơ sở dữ liệu cho quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên toàn lưu vực sông Mekong.

Theo PGS.TS Đào Trọng Tứ, những vấn đề mà KTNN kiến nghị thực chất là câu chuyện đấu tranh đường dài mà Việt Nam đã tiến hành từ nhiều năm qua.

Ông cho biết, MRC là tổ chức liên chính phủ gồm 4 quốc gia thành viên (Campuchia, Thái Lan, Lào, Việt Nam) và hàng năm các quốc gia này đóng góp chi phí để MRC hoạt động. Nhiệm vụ của MRC là giám sát, theo dõi việc thực hiện Hiệp định Hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông  Mekong 1995 (Hiệp định Mekong 1995); giám sát, kiểm soát hệ thống khí tượng thủy văn, sử dụng và khai thác tài nguyên nước; đưa ra cảnh báo và giải pháp, đồng thời thực hiện nhiều nghiên cứu được quốc tế tài trợ. 

Ủy ban sông Mekong Việt Nam là tổ chức liên ngành, hiện do Phó Thủ tướng Lê Văn Thành làm Chủ tịch, lãnh đạo các bộ ngành, cơ quan và các tỉnh thành trong lưu vực làm ủy viên.

Vừa qua, Ủy ban sông Mekong Việt Nam đã thành lập 2 tiểu ban, gồm Tiểu ban lưu vực sông Cửu Long và Tiểu ban lưu vực sông Sê San - Srêpốk. Hai tiểu ban này thực hiện quản lý lưu vực sông Cửu Long và lưu vực sông Sê San-Srêpốk, đồng thời  nghiên cứu, đề xuất với Chủ tịch Ủy ban sông Mekong Việt Nam phương hướng, giải pháp để giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành, liên quốc gia liên quan đến lưu vực sông; thúc đẩy hợp tác sử dụng quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường giữa Việt Nam và Campuchia.

Nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy ban sông Mekong Việt Nam khẳng định, trách nhiệm của MRC, Ủy ban sông Mekong Việt Nam rất rõ ràng. Chịu trách nhiệm giám sát hệ thống này là hệ thống giám sát của MRC và các quốc gia thành viên. Các hệ thống này kết nối với nhau, kể cả hợp tác với Trung Quốc ở một số trạm quan trắc. MRC bỏ kinh phí để lấy số liệu từ một số trạm của Trung Quốc ở thượng nguồn, còn số liệu ở mức độ nào tùy thuộc vào tình hình hợp tác.

"Cho nên, chưa cần KTNN kiến nghị thì trách nhiệm của Ủy ban sông Mekong Việt Nam đương nhiên là phải làm những việc ấy.

Đặc biệt, để đi đến quy định, quy chế làm cơ sở điều tiết các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong lưu vực sông Mekong, các quốc gia "cãi nhau" từng chữ một. Để thượng nguồn không xây thủy điện đôi khi đó là sự đánh đổi. Nói một cách đơn giản, nước nào muốn làm công trình trên dòng chính Mekong thì phải tham vấn các nước thành viên, quy chế đã được đưa ra nhưng thành công đến đâu thì phụ thuộc rất nhiều vào mối tương quan địa chính trị giữa các nước.

Không thể yêu cầu nước nào đó không được chuyển nước ra ngoài lưu vực sông Mekong hay yêu cầu họ không được xây dựng thủy điện vì đó là chủ quyền quốc gia.

Câu chuyện nguồn nước là chủ quyền tương đối, các nước hợp tác với nhau tốt thì chia sẻ cho nhau, còn nếu không thì như kinh nghiệm nhiều quốc gia trên thế giới, thậm chí phải giải quyết bằng xung đột", PGS.TS Đào Trọng Tứ giải thích.

Cũng bởi vậy, vị chuyên gia cho rằng yêu cầu xây dựng các chế tài cụ thể để giải quyết tranh chấp đối với các bất đồng giữa các quốc gia trong việc quản lý và sử dụng nước lưu vực sông Mekong là đúng nhưng đó cũng là vấn đề phải đấu tranh và có cả đánh đổi.

Chẳng hạn, nếu muốn một quốc gia không phát triển thủy điện, vậy đổi lại họ được đền bù cái gì? Cho nên, ông Tứ cho rằng đấu tranh cho quyền lợi quốc gia là đúng, song phải nhìn nhận vấn đề một cách thực tế và tìm ra con đường đấu tranh cho phù hợp. Cũng có khi, phải có sự thay đổi để việc hợp tác giữa các quốc gia tốt hơn.

Một điểm được PGS.TS Đào Trong Tứ lưu ý, đó là, Hiệp định Mekong 1995 mới chỉ điều chỉnh các hoạt động trên dòng chính Mekong, còn dòng nhánh không nằm trong hiệp định và đó là chủ quyền quốc gia. Do vậy, nhiều ý kiến cho rằng cần bổ sung Hiệp định Mekong 1995 và để đạt được hiệu quả đòi hỏi một chặng đường dài. Ngay cả cả việc chuyển giao các hệ thống quan trắc cũng không đơn giản, nó tùy thuộc vào tương quan chính trị và đấu tranh của từng quốc gia.

Thành Luân

Theo Đất Việt

Tin Cùng Chuyên Mục