Đừng giúp doanh nghiệp kiểu “thầy bói xem voi”
Hai làn sóng Covid-19 quét qua khiến hi vọng phục hồi của hàng trăm ngàn doanh nghiệp Việt mong manh hơn. Phải có chiến lược ứng phó thế nào?
Đã không còn nhiều căn cứ cho niềm hy vọng Việt Nam sẽ vượt qua dịch bệnh Covid-19 một cách đỡ thiệt hại nhất, ngoạn mục nhất.
Làn sóng dịch Covid-19 lần hai xuất hiện một cách đột ngột như cách nó gây nên cơn ác mộng cho đời sống kinh tế, xã hội toàn thế giới khiến những người lạc quan nhất cũng không đủ tự tin mà xác quyết, đó sẽ là cơn tai biến cuối cùng.
Giới chuyên gia từng dự báo, dịch bệnh Covid-19 có thể kéo dài trong 2 năm, cho tới khi có miễn dịch cộng đồng. Diễn biến thực tế của bệnh dịch đang củng cố cho nhận định này, đồng nghĩa, các nền kinh tế thế giới phải có phương án ứng phó với viễn cảnh chẳng hề sáng sủa này.
Việt Nam đương nhiên không là ngoại lệ. Độ mở cực lớn của nền kinh tế dải đất hình chữ S khiến cho tác động của sự suy giảm chung của kinh tế toàn cầu thể hiện càng rõ nét. Duy trì tăng trưởng dương đương nhiên là một thành tích đáng nể, thế nhưng xét về giá trị tuyệt đối, sự sụt giảm ở tất cả các ngành, các lĩnh vực sẽ không hề nhỏ.
Điều đáng nói hơn, đối với cơ thể kinh tế vẫn tương đối khiêm tốn, sức chống chịu sẽ hạn chế hơn. Nói nôm na, những người kiếm được hàng triệu USD/năm giờ giảm 70% thu nhập thì duy trì cuộc sống vẫn dễ dàng hơn rất nhiều so với những người bị giảm 30% trên thu nhập vài trăm USD trong khoảng thời gian tương tự. Đã vậy, dịch bệnh Covid-19 có vẻ không phải là một câu chuyện ngày một ngày hai.
Lựa chọn hỗ trợ người dân và doanh nghiệp là điều ‘tất dĩ ngẫu’ đối với bất cứ một quốc gia nào chịu tác động của dịch bệnh. Đối tượng được ưu tiên trước hết là người dân. Các biện pháp giúp người dân có thể vượt qua đại dịch trong một điều kiện sống thiết yếu nhất đã được Việt Nam triển khai và đã phát huy những hiệu quả nhất định.
Thế nhưng, ai cũng hiểu, duy trì hình thức hỗ trợ bằng tiền trong 1-2 năm là khó khả thi, đặc biệt với những nước có năng lực ngân sách không lớn. Cũng phải tính tới độ lùi, khi dịch bệnh qua đi, nền kinh tế sẽ còn mất nhiều thời gian để phục hồi, nghĩa là chưa thể có những nguồn thu nhập ổn định và thường xuyên cho người lao động.
Chiếc chìa khóa quan trọng nhất mà chúng ta buộc phải tìm ra là làm cách nào duy trì được sự tồn tại của doanh nghiệp, tạo việc làm cho người dân và thúc đẩy nền kinh tế hồi phục, phát triển.
Với nguồn lực có hạn, bao gồm cả nguồn lực chính sách và nguồn lực tín dụng, để đạt được tối đa các mục tiêu nói trên, nói như nhiều chuyên gia kinh tế, chúng ta phải chọn được người thắng cuộc.
Nếu quên đi những áp lực, khó khăn hiện tại, hẳn nhiều doanh nghiệp đã có thể nở rộng một nụ cười. Câu trả lời trên đúng trong mọi hoàn cảnh, thời đại, thậm chí từng cá thể doanh nghiệp. Không ai không muốn tuyên bố rằng, tôi là người chiến thắng, đặc biệt khi lời tuyên bố đó đi kèm với phần thưởng mà ai ai cũng phải mong chờ.
Lời khuyên chọn doanh nghiệp mạnh không chọn doanh nghiệp yếu cũng được hiểu theo cách như vậy. Thế nào là doanh nghiệp mạnh? Đó là nhóm những doanh nghiệp thân hữu hoặc bán thân hữu đã và đang được hưởng vô số những ưu ái cả về chính sách, tín dụng lẫn thị trường? Hay đó là những doanh nghiệp có sản phẩm, sòng phẳng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị trường nội địa cũng như thế giới mà đang gục ngã vì bệnh dịch?
Kể cả trong một nền kinh tế thị trường hoàn hảo, đáp án cũng không thể đơn giản là yếu hay mạnh. Nhóm doanh nghiệp với hoạt động kinh doanh mang tính chất phái sinh như du lịch hay giáo dục… sẽ là những người đón sóng dữ sau và đón niềm vui trước. Vậy có nên ưu tiên cho nhóm những doanh nghiệp này? Nếu trả lời là có, đó cũng không thể là những chính sách ưu đãi tương đương nhóm các doanh nghiệp chịu thiệt hại nhiều hơn.
Trái khoáy ở chỗ đó là những doanh nghiệp có thể được xếp vào dạng ‘doanh nghiệp mạnh’. Với các hiệp hội hay nhóm doanh nghiệp ‘bạo chi’ hơn, họ sẽ có sức mạnh để vận động chính sách và thuyết phục truyền thông.
Lời kêu cứu của họ sẽ tạo thành mật ngọt cho chính họ, và khi miếng bánh đã bị cắt đi nhiều phần, doanh nghiệp sản xuất những ngành hàng cốt lõi bị đánh gục vì mất thị trường sẽ buộc phải chia nhau phần còn lại ít ỏi. Trong tình huống đó, ai sẽ là người thua cuộc cuối cùng?
Tất nhiên, không ai có thể bỏ quên cái thước thị trường. Điều này có nghĩa, hỗ trợ doanh nghiệp phải dựa trên tiêu chí thị trường và nhu cầu của thị trường, cả thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu.
Đối với thị trường nội địa, quy mô gần 100 triệu dân là một ưu thế. Sự ngưng trệ trong giao thương giữa Việt Nam với nhiều nền kinh tế khác trên thế giới có thể tạo ra một khoảng trống để các doanh nghiệp trong nước lấp chỗ trống.
Vậy thì nhiệm vụ đặt ra là tìm ra khoảng trống đó và hỗ trợ những ai có thể tạo ra sản phẩm thay thế các mặt hàng vốn vẫn được nhập ngoại. Xét về dài hạn, đây là cơ hội để người Việt thực sự dùng hàng Việt.
Một ưu thế khác của thị trường Việt Nam, rất bất ngờ, đến từ nhóm lao động không hoặc rất ít bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, thuộc khu vực nhà nước. Gánh nặng công chức, viên chức, trong hoàn cảnh này lại tạo nên một nhóm ‘thượng đế’ vẫn có khả năng chi tiêu cho những mặt hàng và dịch vụ ở phân khúc trung lưu.
Khi thời tiết khô hạn, một giếng nước nhỏ có thể đủ duy trì đời sống cho cả một làng, đã vậy, với các đối tượng khách hàng này, có thể sử dụng cả những mệnh lệnh đặc biệt.
Về dài hạn, những sản phẩm nào có thể được tiêu dùng tại thị trường nội địa, và có thể có những biện pháp ưu ái với những sản phẩm này mà không vi phạm các thỏa thuận thương mại tự do hay không?
Nếu câu trả lời là có, nên tập hợp và hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất được các sản phẩm như trên ra sao? Ngoài hỗ trợ về chính sách và tín dụng, nên hỗ trợ thế nào về phương thức quản lý và công nghệ để tiết giảm nhất chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Một cuộc phân nhóm thị trường và phân nhóm ngành hàng xuất khẩu nên được thực hiện rốt ráo. Sẽ xuất hiện nhiều gợi mở, chẳng hạn, các thị trường khác đang thiếu hụt mặt hàng nào, Việt Nam có thể đáp ứng nguồn cung không và con đường đến với các thị trường đó ra sao? Hay trong trung hạn và dài hạn, những mặt hàng nào có cơ hội phát triển? Vòng quay một sản phẩm như vậy kéo dài trong thời gian bao lâu và nếu doanh nghiệp Việt muốn đáp ứng, việc đầu tư nên bắt đầu khi nào?
Sẽ cần rất nhiều câu hỏi tương tự, từ đó đưa ra những phương án hỗ trợ cho từng ngành hàng, từng lĩnh vực sản xuất.
Các vị ‘thầy đời’ trong lĩnh vực kinh tế, dù theo trường phái kinh tế nào, cũng cần ngồi lại với nhau, tranh luận để tìm ra một đáp án tối ưu nhất, tránh cảnh ai ai cũng nhiệt thành nêu quan điểm, nhưng cuối cùng lại chỉ là ‘thầy bói xem voi’. Và cần phải nhận thức rõ rằng, việc này đang rất… vội.
Xung đột Trung Đông: ADB cảnh báo ba kịch bản rủi ro đối với kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
Gián đoạn kéo dài từ xung đột tại Trung Đông đang đặt ra những rủi ro đáng kể đối với triển vọng kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương....
"Điểm nóng" Trung Đông ngày 30/3: Hai tàu chở khí đốt của Ấn Độ đi qua eo biển Hormuz
PetroTimes xin gửi đến Quý độc giả những tin tức mới nhất từ điểm nóng tại Trung Đông.
Bổ sung 8.000 tỷ đồng tạm ứng Quỹ bình ổn xăng dầu
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Quyết định số 483/QĐ-TTg, bổ sung 8.000 tỷ đồng từ nguồn tăng thu ngân sách Trung ương năm 2025...
Hà Nội: IoT trở thành “xương sống” điều hành đô thị thông minh
Với việc ban hành Kế hoạch ứng dụng IoT trong ngành năng lượng, Hà Nội đặt mục tiêu hình thành hệ sinh thái dữ liệu thời gian thực...
Áp dụng thuế bảo vệ môi trường 0 đồng/lít đối với xăng, dầu từ 26/3 - 15/4
Từ 24 giờ ngày 26/3/2026 đến hết ngày 15/4/2026, Chính phủ quyết định áp dụng mức thuế 0 đồng/lít đối với thuế bảo vệ môi trường, đồng thời đưa thuế...
Xem xét đẩy sớm triển khai xăng sinh học E10 ngay trong tháng 4
Trước yêu cầu bảo đảm nguồn cung và thúc đẩy chuyển dịch năng lượng xanh, Bộ Công Thương đang lấy ý kiến các bộ, ngành và doanh nghiệp...
Chủ động điều hành, “giữ nhịp” thị trường xăng dầu trước biến động toàn cầu
Trước cú sốc năng lượng toàn cầu, Bộ Công Thương đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp từ điều hành giá, bảo đảm nguồn cung đến kiến nghị chính sách thuế...
Khủng hoảng năng lượng khiến châu Á tính lại "kịch bản COVID-19"
Các quốc gia châu Á đang cân nhắc áp dụng lại chính sách làm việc tại nhà như từng được triển khai trong thời kỳ đại dịch COVID-19 nhằm ứng phó với bài toán...
Bộ Tài chính đề xuất giảm thuế môi trường với xăng, dầu đến ngày 30/6/2026
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều chỉnh thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu...
Dự báo thời tiết ngày 24/3/2026: Bắc Bộ có mưa nhỏ rải rác
Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia vừa đưa ra thông tin dự báo thời tiết Hà Nội và các khu vực khác trên cả nước ngày 24/3/2026.
Đề xuất kéo dài thuế nhập khẩu xăng dầu 0% và bãi bỏ thuế kho ngoại quan cho các nhà thầu
Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam kiến nghị xây dựng chính sách thuế ổn định, dài hạn, trong đó duy trì thuế nhập khẩu xăng dầu ở mức 0% và bãi bỏ thuế nhà thầu với hàng hóa đưa vào kho ngoại quan, nhằm tối ưu chi phí, gỡ điểm nghẽn thuế cho xăng sinh học.
Xung đột leo thang, sản lượng dầu vùng Vịnh sụt giảm ra sao?
Chỉ hơn một tuần kể từ khi các đòn tấn công của Mỹ-Israel vào Iran khiến eo biển Hormuz bị gián đoạn, hơn 12 triệu thùng dầu quy đổi mỗi ngày sản lượng dầu khí...
Xung đột Trung Đông: Tiềm ẩn cuộc khủng hoảng dầu khí lớn nhất lịch sử (Kỳ 2)
Những biến động hiện nay, dù rất mạnh, nhưng mới chỉ ở giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng. Thực sự không quá khi nói rằng lần này sẽ là cuộc khủng hoảng dầu mỏ lớn nhất lịch sử.
Các nước thắt lưng buộc bụng năng lượng do xung đột Trung Đông
Trong bối cảnh xung đột tại Iran đang leo thang mạnh mẽ (tháng 3/2026), giá dầu thô đã vượt ngưỡng 110 USD/thùng và giá khí hóa lỏng (LNG)...
Xung đột Trung Đông: Tiềm ẩn cuộc khủng hoảng dầu khí lớn nhất lịch sử (Kỳ 1)
Xung đột Trung Đông bùng phát đang gây những hệ lụy cực kỳ lớn lên lĩnh vực năng lượng, xuất hiện nguy cơ lạm phát cũng như làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu.
Nhập khẩu xăng dầu tăng hơn 40% trước biến động thị trường
Trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới biến động mạnh, các doanh nghiệp trong nước đang đẩy nhanh nhập khẩu...
Mức đóng BHYT thay đổi ra sao khi lương cơ sở tăng từ 1/7/2026?
Chính phủ dự kiến điều chỉnh lương cơ sở tăng 8%, mức đóng bảo hiểm y tế cũng thay đổi do mức đóng hiện được tính bằng 4,5% lương cơ sở.
Sân bay Phan Thiết sẽ khởi công ngày 30/4/2026
Các thủ tục đã hoàn tất nên Tập đoàn Sun Group sẽ khởi công hạng mục hàng không dân dụng sân bay Phan Thiết vào ngày 30/4/2026.
Dự báo tác động của chiến sự tại Iran đối với kinh tế thế giới và Việt Nam
TS. Cấn Văn Lực và nhóm tác giả Viện Nghiên cứu kinh tế BIDV đã công bố báo cáo đánh giá nhanh tác động của xung đột tại Iran...



























.png)